một số hướng dẫn về hoạt động quan trắc môi trường định kỳ theo hướng dẫn thông tư 25/2019/TT-BTNMT

In

Theo Thông tư số 25/2019/TT-BTNMT ngày 31/12/2019 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 40/2019/NĐ-CP ngày 13 tháng 5 năm 2019 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật bảo vệ môi trường và quy định quản lý hoạt động dịch vụ quan trắc môi trường:

- Theo điểm d, khoản 1, Điều 37 Thông tư số 25/2019/TT-BTNMT, Báo cáo công tác bảo vệ môi trường được gửi tới các cơ quan: Cơ quan đã phê duyệt, xác nhận báo cáo đánh giá tác động môi trường, đề án bảo vệ môi trường, kế hoạch bảo vệ môi trường hoặc hồ sơ về môi trường tương đương của dự án, cơ sở; Sở Tài nguyên và Môi trường (nơi dự án, cơ sở có hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ). Như vậy, đề nghị chủ dự án gửi 02 bản Báo cáo đến Sở Tài nguyên và Môi trường (Phòng Quản lý chất thải rắn và Chi cục Bảo vệ môi trường); 01 bản về Phòng Tài nguyên và Môi trường quận/huyện hoặc các cơ quan có thẩm quyền khác.

2) Đối tượng Tần suất quan trắc Quan trắc nước thải

Các cơ sở, khu công nghiệp và dự án đã đi vào vận hành có quy mô, công suất tương đương với đối tượng phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường (sau đây gọi tắt là ĐTM) và có tổng khối lượng nước thải ra môi trường (theo tổng công suất thiết kế của các hệ thống xử lý nước thải hoặc theo khối lượng nước thải đã được phê duyệt trong ĐTM hoặc các hồ sơ tương đương) từ 20 m3/ngày (24 giờ) trở lên 03 tháng/lần.

Các cơ sở, dự án đã đi vào hoạt động có quy mô công suất tương đương với đối tượng phải đăng ký kế hoạch bảo vệ môi trường và có tổng khối lượng nước thải ra môi trường (theo tổng công suất thiết kế hoặc theo khối lượng nước thải đã đăng ký trong kế hoạch bảo vệ môi trường từ 20 m3/ngày (24 giờ) trở lên 06 tháng/lần

Các cơ sở, dự án đã đi vào hoạt động có tổng khối lượng nước thải ra môi trường (theo tổng công suất thiết kế hoặc theo khối lượng nước thải đã phê duyệt trong ĐTM/Kế hoạch bảo vệ môi trường/Đề án bảo vệ môi trường/Phiếu đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường hoặc các hồ sơ tương đương) dưới 20 m3/ngày (24 giờ) không thực hiện quan trắc nước thải (khuyến khích XN nước thải 1 năm/lần nếu có điều kiện).

Đối tượng phải thực hiện quan trắc nước thải tự động:

3) Đối tượng Tần suất quan trắc Quan trắc khí thải

Các cơ sở, dự án đã đi vào vận hành có quy mô, công suất tương đương với đối tượng phải lập ĐTM và có tổng lưu lượng khí thải thải ra môi trường từ 5.000 m3 khí thải/giờ trở lên (theo tổng công suất thiết kế của các hệ thống, thiết bị xử lý khí thải hoặc theo lưu lượng khí thải đã phê duyệt trong ĐTM và các hồ sơ tương đương) 03 tháng/lần

Các cơ sở, dự án đã đi vào hoạt động có quy mô công suất tương đương với đối tượng phải đăng ký kế hoạch BVMT và có tổng lưu lượng khí thải thải ra môi trường từ 5.000 m3 khí thải/giờ trở lên (theo tổng công suất thiết kế của các hệ thống, thiết bị xử lý khí thải hoặc theo lưu lượng khí thải đã đăng ký trong Kế hoạch bảo vệ môi trường) 06 tháng/lần

Các cơ sở, dự án đã đi vào hoạt động có tổng lưu lượng khí thải thải ra môi trường dưới 5.000 m3 khí thải/giờ (theo tổng công suất thiết kế của các hệ thống, thiết bị xử lý khí thải hoặc theo lưu lượng khí thải đã đăng ký trong ĐTM/Kế hoạch bảo vệ môi trường/Đề án bảo vệ môi trường/Phiếu đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường hoặc các hồ sơ tương đương) không quan trắc khi thải (khuyến khích quan trắc khi thải 1 năm/lần nếu có điều kiện).

Đối tượng phải thực hiện quan trắc khí thải tự động, liên tục bao gồm:

4) Tóm tắt

- Như vậy, Chủ dự án, cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ thực hiện quan trắc nước thải, khí thải định kỳ theo tần suất như trên và tổng hợp vào một Báo cáo công tác bảo vệ môi trường hàng năm.

- Quy định về thực hiện Báo cáo công tác công tác bảo vệ môi trường theo Thông tư số 25/2019/TT-BTNMT có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 02 năm 2020 hiện đang được áp dụng cho tất cả các Chủ dự án, cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ trên địa bàn các quận/huyện trực thuộc tỉnh/thành phố.

Người đăng: ThS. Đặng Ngọc Chánh

Khoa Sức khỏe môi trường

Viện Y tế công cộng TP. Hồ Chí Minh